Chương 5: Đại Tai Bang Tử báo thù (1)minhnguyetthiennhai
Đại Tai Bang Tử và Tháp Thập Cáp chưa từng dính dáng đến chuyện đào mộ trộm mả, thậm chí chưa từng nhen nhóm ý nghĩ này. Hai người biết rằng đụng tới nghề này là hao tổn âm đức, giảm thọ, những kẻ có bát tự không vững mà dám đào mộ thì báo ứng sẽ tới ngay trước mặt. Dù có hưởng thụ được tiền tài bất nghĩa, họa cũng sẽ truyền tới đời con cháu. Ai mà không sợ trời cao có mắt, báo ứng khó thoát?
Thợ săn ăn nhờ núi, sống nhờ rừng, không vi phạm luật vua. Nhưng trộm mộ là ăn của thối, là điều cả âm dương đều cấm kỵ, dương gian có luật, âm phủ có quỷ thần. Dùng tiền của người chết, chẳng phải lấy mạng để đền sao?.
Nhưng để báo thù cho cái chết của cả nhà, gom đủ vốn dựng cờ lập lũy, hai người đã quyết liều mạng. Nói thẳng ra, dù có mất mạng cũng cam lòng, còn sợ gì kiêng kỵ? Sống nhục đến giờ cũng chỉ để tìm bọn giặc đòi nợ máu, chết sớm muộn cũng như nhau. Liều mạng may ra còn có đường sống.
Chỉ có điều, Đại Tai Bang Tử và Tháp Thập Cáp, cộng thêm tên "Bổng tử thủ" chuyên đi đánh lén Sơn Cẩu Tử, đều là những kẻ ngoại đạo trong nghề trộm mộ. Cả bọn co ro trong lều rách tám mặt gió lùa, đốt củi sưởi ấm, quấn chặt áo da, bàn bạc tới nửa đêm, lạnh đến run cầm cập, mà vẫn chẳng nghĩ ra kế sách gì hay. Bởi vì cái gọi là “khác nghề như cách núi”.
Họ chẳng biết bắt đầu đào mộ từ đâu, càng mù tịt chuyện "tiêu thụ" chiến lợi phẩm kiếm được. Nếu không có ai nhận mua, chẳng đổi được thành vàng ròng bạc trắng, thì của quý đến mấy thì đối với bọn hắn cũng vô dụng. Chẳng may gặp phải kẻ xấu, nhận hàng xong giở trò nổ súng hạ sát, cả bọn chết oan thì đúng là mất cả chì lẫn chài.
Cuối cùng, chính Sơn Cẩu Tử nghĩ ra cách. Tục ngữ có câu: "không có Kim Cương Toản thì đừng nhận việc sửa đồ sứ", vậy chỉ cần kiếm được "kim cương toản" là xong! Tìm thêm một tay lão luyện trong nghề trộm mộ nhập bọn, thế là chắc ăn nhất!"
Đại Tai Bang Tử nghe thấy lời Sơn Cẩu Tử nói cũng có lý, bất giác gật đầu đồng ý. Từ nhỏ hắn đã từng từ Giao Đông tới vùng Quan Ngoại , từng trải qua không ít chuyện, thấy đủ thứ trên đời, nhưng suốt mười mấy năm qua chỉ quanh quẩn ở Hắc Hạt Tử Câu, nơi núi sâu dân thưa, người qua lại ít ỏi, quen biết chẳng được bao nhiêu. Bảo hắn vào rừng săn "hổ đầu bài" thì hắn không ngại, nhưng bảo đi tìm người thì thật quá khó khăn, đi đâu mà kiếm được tay chuyên đào mồ trộm mộ đây?
Sơn Cẩu Tử thì khác, từng vài năm làm "Tạp Cô Đinh", cũng coi như dân trong giới giang hồ lục lâm, quen biết được dăm ba tên ngưu quỷ xà thần cũng không lạ. Chợt hắn mắt sáng lên, thốt ra: "Ta thật sự quen một người!".
Đại Tai Bang Tử và Tháp Thập Cáp vội hỏi: "Ai vậy?"
Người Sơn Cẩu Tử nhắc tới là một thầy phong thủy tên Đổng Âm Dương, cũng là một kẻ thuộc loại nửa mùa vớ vẩn, ngày ngày giả thần giả quỷ, nửa lừa nửa dối kiếm miếng ăn. Hắn ta không kén chọn, gặp kẻ giàu thì vơ vét được bao nhiêu hay bấy nhiêu, gặp người thật nghèo thì nửa cái bánh ngô cũng nhận, miễn là có gì ăn nấy, qua ngày đoạn tháng.
Đổng Âm Dương vốn là tay lừa đảo giang hồ, chuyên nghề xem âm trạch dương trạch cho người ta. Hắn ta luôn thổi phồng mọi thứ bằng những lời đường mật ngọt ngào. Chỉ cần một gò đất bình thường, qua miệng hắn cũng biến thành phong thủy bảo địa, lại còn bịa đặt đủ thứ chuyện như "đầu tựa núi, chân đạp sông, trước có tiên cảnh - sau có núi dựa", hay là "một nhát cuốc đào trúng ngũ sắc thổ". Hắn thề thốt rằng bất kể tiền kiếp thế nào, chỉ cần chôn ở đây ắt được hưởng phú quý vinh hoa, con cháu đầy đàn, công danh rạng rỡ. Dù không sinh được hoàng đế thì ít nhất cũng có vài đại thần chấp chính hay nguyên soái cầm quân, có thể nói là "quan to được làm, ngựa tốt được cưỡi".
Những năm gần đây, dân tứ xứ đổ về vùng Quan Ngoại ngày càng đông. Mặc dù ai cũng biết những lời này không đáng tin, nhưng vẫn hi vọng vào cái may "tổ tiên phù hộ" để đổi đời. Người sống có thể nhịn đói vài bữa, nhưng nhất định phải tìm cho người chết một nơi an nghỉ tử tế. Nhờ vậy mà hắn ta kiếm cơm khá dễ dàng. Suy cho cùng, vùng đất Đông Bắc này vốn được coi là "long hưng chi địa" của nhà Thanh, là nơi Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích lớn lên. Cứ thế mà hắn tha hồ phóng đại, "nói phét cũng thành thật"!
Kỳ thực, Đổng Âm Dương nào phải thầy phong thủy chân chính. Hắn chính là tay mộ tặc già đời, mượn danh nghề xem đất để dò la mồ mả của nhà giàu. Nhận tiền công xem đất chỉ là cái cớ, cái chính là để sau khi chủ nhân chôn cất xong, hắn sẽ quay lại đào trộm lấy vàng bạc châu báu chôn theo. Đúng là thứ vô liêm sỉ hết mực! Nhưng nếu được tên này trợ giúp, việc lớn ắt thành.
Kẻ khốn cùng không thể chờ đến hừng đông, vừa rạng sáng hôm sau Sơn Cẩu Tử đã dẫn Đại Tai Bang Tử và Tháp Thập Cáp xuống núi tìm người. Đổng Âm Dương sống ở nơi xa xôi, nằm trong một ngôi chùa hoang ven huyện thành.
Ngôi chùa này tồi tàn chẳng khác gì căn lều nát của Sơn Cẩu Tử. Ban đầu nó chỉ là ba gian nhà đất đơn sơ, giờ đã sập mất hai gian. Ba người bước vào miếu, thấy bên trong phủ một lớp bụi đất dày, cửa sổ lung lay như sắp rụng, gió lùa qua những khe hở rít lên từng hồi.
Giữa miếu là một tượng thần bằng đất nung, tàn tạ thảm hại, sơn tróc lở, chẳng rõ là vị đại tiên hay Phật tổ nào. Góc nhà có thêm một cái giường lò sưởi, trông lạc lõng kỳ cục. Trên giường lò, một gã chừng bốn mươi tuổi ngồi chễm chệ, mặc áo rách bươm, lôi thôi lếch thếch, mặt mũi bẩn thỉu, chắc cả đời chưa từng rửa mặt tử tế, tóc tai râu ria rối bù như chiếu rách. Nhìn gã bẩn đến mức không ai muốn gần. Người lạ chẳng biết gã là ai, nhưng Sơn Cẩu Tử thì nhận ra ngay, chính là phong thủy "Tiên Sinh" Đổng Âm Dương.
Nhận ra có người vào miếu, Đổng Âm Dương chẳng vội chẳng vàng, chỉ khẽ nhếch mí mắt lên hỏi: "Các vị tìm ai thế?" giọng nói dính răng dính lợi, lè nhè khó nghe. Sơn Cẩu Tử đảo mắt liếc nhìn rồi đột ngột bước sát tới, ghé sát tai hắn lớn tiếng: "Lão Đổng, ta là Sơn Cẩu Tử đây, mới hôm qua mà đã nhận không ra rồi à?".
Đổng Âm Dương nhận ra tay "Bổng Tử Thủ" Sơn Cẩu Tử, biết rõ đây chẳng phải loại hiền lành gì. Hai bên vốn chẳng thân thiết, gặp nhau ngoài đường còn chẳng thèm chào, cớ sao hôm nay lại tìm tới tận hang ổ? Nhìn Sơn Cẩu Tử dẫn người tìm tới, Đổng Âm Dương đoán ngay “chồn đến chúc tết gà" chẳng có ý tốt lành gì, nhưng vẫn ra vẻ điềm tĩnh ngồi yên trên giường lò, hỏi: "Ba vị quang lâm hàn xá, có gì chỉ giáo?".
Sơn Cẩu Tử bước tới, chắp tay nói thẳng: "Vô sự bất đăng tam bảo điện. Bọn ta phát hiện một ngôi cổ mộ, muốn cùng ngươi hợp tác kiếm chác..." Chưa dứt lời, Đổng Âm Dương đã vội vã khoát tay, nhất quyết khẳng định mình chỉ là thầy phong thủy, trên tuân vương pháp dưới kính quỷ thần, chẳng dám làm chuyện tổn âm đức, đoạn tử tuyệt tôn như thế.
Sơn Cẩu Tử bực mình ngắt lời: "Được rồi! đừng bày trò giả bộ nữa! Giữa chúng ta còn đóng kịch làm gì? Nơi này chẳng có người ngoài, ai chẳng biết rõ nhau? Chuyện hao tổn âm đức ngươi làm còn ít à? Tiền hút thuốc phiện, đi kỹ viện thì lấy đâu ra? Già rồi vẫn ế vợ, đó chẳng phải đoạn tử tuyệt tôn thì là gì? Hay trông chờ gái lầu xanh đẻ con hộ cho ?"
Đổng Âm Dương ngửa cổ chớp mắt mấy cái: "Vậy... nói thẳng ra nhé. Chuyện đào mộ trộm mả không dễ, xong chuyến thì chia cho ta bao nhiêu?"
Sơn Cẩu Tử đáp: "Ngươi cứ việc yên tâm, ta nói trước cho rõ, sau khi chuyến này thành công thì phân chia công bằng, chúng ta bốn người, một người một phần, nhiều phân nhiều - ít phân ít, không thiếu của ngươi một đồng nào đâu."
Đổng Âm Dương lại bồi thêm: “Chỉ mồm mép thì không ăn thua, ngươi nghĩ ta không biết Sơn Cẩu Tử là thứ gì à? Ta tin ngươi được sao? Ngươi mà giữ lời thì mặt trời mọc đằng tây!".
Sơn Cẩu Tử khinh khỉnh: "Nhìn cái bộ dạng hôi hám của ngươi thế kia, cứ tưởng là mình có hỏa nhãn kim tinh à? Thế này đi, ta lập lời thề độc với ngươi, ngươi thấy sao?".
Nghe đến đây, Đổng Âm Dương đảo mắt một vòng, đưa mắt dò xét Đại Tai Bang Tử và Tháp Thập Cáp đứng sau Sơn Cẩu Tử từ đầu đến chân mấy lượt. Lão hỏi rõ lai lịch hai người, rồi nghe Đại Tai Bang Tử kể sơ về vị trí ngôi mộ cổ, tại sao lại tìm được nó, xung quanh có đặc điểm gì. Đổng Âm Dương nghe mà lẩm bẩm tỏ vẻ kinh ngạc, trong lòng không khỏi ngứa ngáy. Hắn vuốt mấy sợi râu thưa thớt bên mép, chậm rãi nói: “Cái này… cái này… Người không gặp thời người không giàu, ngựa không ăn cỏ đêm ngựa chẳng béo. Miếng mồi béo bở dâng tận miệng, lẽ nào không đớp? Nếu đúng như thế thì đi một chuyến cũng chẳng sao!” .
Bốn người bàn bạc xong, bèn lấy đất nặn lò, cắm cỏ thay nhang, xếp hàng quỳ trước tượng thần đất nung, chẳng buồn hỏi đó là thần thánh phương nào, rồi chỉ trời chỉ đất mà thề: “Trời cao soi xét, đất dày làm chứng, thần tài phía trước, thổ địa phía sau, bốn anh em ta từ hôm nay kết nghĩa kim lan, có phúc cùng hưởng, có nạn cùng gánh, buồn có nhau, vui chia sẻ, không cầu cùng sinh nhưng nguyện cùng tử, ai hai lòng, ắt có báo ứng!”.
Cả bốn người theo vai vế mà lạy kết nghĩa anh em. Đổng Âm Dương lớn tuổi nhất, được tôn làm đại ca, thứ hai là Sơn Cẩu Tử, tiếp đến là Đại Tai Bang Tử, nhỏ nhất là Tháp Thập Cáp. Từ nay trở đi, bọn họ như châu chấu cùng dây, một người vinh là cả bọn được nhờ, một người bại là cả đám lụn bại.
Đêm đó cả bọn quây quần trên giường lò bàn chuyện. Đổng Âm Dương cũng không khách sáo, lấy hết chỗ bánh ngô, bánh cao lương dự trữ trong nhà ra đãi anh em. Mấy huynh đệ vừa nhai nhóp nhép vừa bàn kế hoạch đào mộ phát tài.
Sáng hôm sau, theo chỉ dẫn của Đổng Âm Dương, cả bọn chuẩn bị đầy đủ dụng cụ đào mộ, những thứ này trong ngôi chùa hoang của hắn vốn đã có sẵn. Họ còn mang theo súng săn, lao săn, Khai sơn đao và chủy thủ để phòng thân.
Theo sự dẫn đường của Đại Tai Bang Tử, bốn người tiến vào rừng sâu. Nếu nói về mức độ am hiểu vùng rừng già Hắc Hạt Tử Câu, nếu Đại Tai Bang Tử nhận mình đứng thứ hai thì chẳng một ai dám nhận là đứng thứ nhất. Những nẻo đường hắn từng đi qua đều như "câm điếc ăn sủi cảo - trong lòng tự nhảy số", gần như chẳng cần đánh dấu. Từ góc nào nhìn dãy núi, hình dáng ra sao, hay là cây đại thụ nào có dấu vết đặc biệt trên thân, hắn chỉ cần liếc mắt là rõ như lòng bàn tay.
Đi cả ngày đến khi mặt trời ngả bóng, tới con suối núi mà Đại Tai Bang Tử từng lạc vào lúc đánh nhau với hổ. Họ tìm được cây cổ thụ nghiêng nghiên ngả ngả đã từng cứu mạng hắn, thả mấy sợi dây thừng dài xuống. Bốn người bám vào dây thừng leo xuống, thấy cánh cửa đá lớn khắc hình mãnh hổ.
Hai cánh cửa đá dày chắc vô cùng, đám người Đại Tai Bang Tử không có thuốc nổ, dù có dốc sức bình sinh, dao chém rìu bổ, đục đẽo mười năm hai mươi năm cũng chưa chắc mở được. Nhưng bọn đào mồ ăn của thối luôn có cách luồn lách, hoặc là đào đường hầm lách qua bức tường đá dày, tiến thẳng vào trong mộ thất, hoặc dùng bí dược "Hóa thạch tán" bôi lên cửa, đợi đủ mười hai canh giờ thì đục cửa đá mềm như đậu phụ. Đó chính là lý do Sơn Cẩu Tử mời Đổng Âm Dương gia nhập.
Nào ngờ khi leo xuống đáy vực, đốt đuốc lên soi, cả bọn đều giật mình kinh ngạc!
Hóa ra vách núi phía trên cánh cửa đá đã nứt ra một khe lớn, đầy cỏ dại mọc um tùm, chẳng biết đã vỡ từ bao giờ. Lần trước khi Đại Tai Bang Tử rơi xuống, một là không có đuốc soi đường, hai là hoảng loạn mất bình tĩnh, nên chẳng để ý đến khe nứt lớn ngay trên đỉnh cửa mộ. Thế chẳng phải cứ thế chui vào là xong sao? Biết thế này thì cần gì phải tìm Đổng Âm Dương làm gì cho mệt?
Nhưng nghĩ lại thì, cả ba chưa ai từng vào cổ mộ, không biết cách mở quan tài như thế nào, cạy báu vật ra sao. Nói không chừng bên trong còn có cửa mộ khác, chung quy lại vẫn không thể thiếu lão "đào mồ ăn của thối" này. Hơn nữa, họ đã kết nghĩa huynh đệ, thề nguyền "họa phúc có nhau". Đại Tai Bang Tử vốn là người trọng nghĩa khí, lời nói như đinh đóng cột, "nhất ngôn cửu đỉnh", sao có thể nuốt lời? Nghĩ thông suốt chỗ này, lòng hắn chợt nhẹ nhõm.
Người đời thường là như vậy, thợ mộc thấy gỗ là tính đóng đồ gì, đầu bếp thấy gà vịt lại nghĩ cách nấu món ngon ra sao. Đổng Âm Dương cũng chẳng khác. Thấy cổ mộ trước mắt, hắn như muỗi thấy máu, ruồi nhặng gặp rác, hai mắt sáng rực, tay chân ngứa ngáy, tim đập thình thịch. Bất chấp vách đá trơn trượt, hắn phủi đám cỏ dại, lách mình chui vào đầu tiên. Ba người kia lần lượt bò theo, xuyên qua vách đá dày bốn năm trượng, xuống đến hành lang sau cửa mộ.
Đại Tai Bang Tử đứng trong hành lang tối om, bỗng nhớ đến gã đại hán mặt đen bán lê ngày trước, lòng vẫn còn kinh hãi. Chẳng biết gã đó là quỷ hay yêu? Nghĩ thầm rồi bất giác buột miệng nói ra. Trước khi lên núi, hắn đã kể lại chuyện đi săn hổ cho các huynh đệ. Nghe hắn lẩm bẩm, Đổng Âm Dương cười khẩy hai tiếng: "Tam đệ, làm nghề của chúng ta mà còn sợ chuyện đó? Này nhé, đào mộ chỉ sợ hai điều: một là sập hầm, hai là không có hàng (ám chỉ mộ trống). Chưa bao giờ sợ ma quỷ! Nói thẳng ra, quỷ không tìm ta thì ta cũng phải tìm quỷ. Đói chết kẻ nhát, no chết kẻ gan! Không tới thì thôi, đã tới đây rồi, cứ theo ta mà làm, muốn phát tài thì đi tiếp!".
Dứt lời, hắn giơ cao chiếc đèn "khí tử phong", dẫn đầu mở đường. Hành lang mộ địa tối đen như mực, ẩm ướt, ánh đèn chỉ soi được năm sáu bước phía trước. Ba người phía sau không dám lơ là, tập trung tinh thần, tay cầm súng săn, đuốc cháy rực, cẩn thận bám theo phía sau Đổng Âm Dương.
Đi thêm quãng nữa là đến một gian mộ thất dài hẹp, hai bên có hai căn phòng phụ. Nền đất ngập bùn lên tới mắt cá chân, bước đi trơn trượt, tiếng chân "lẹp bẹp" vang trong không gian tĩnh mịch. Bỗng Đại Tai Bang Tử cảm thấy chân vấp phải vật gì đó. Cúi xuống sờ thử, hắn nhặt được một chiếc bình cổ. Lau lớp bùn bằng tay áo, bình hiện ra màu xanh lục âm u dưới ánh đuốc, hoa văn trang trí hình mỹ nhân cổ phác, y hệt chiếc bình trong giấc mộng. Chỉ có điều trong giấc mộng, chiếc bình sứ ấy được đặt ngay ngắn dưới giá đèn bằng đá, còn giờ đây lại nằm lăn lóc trên mặt đất.
Nhìn sang hai căn phòng phụ, bố cục hoàn toàn khớp với tòa đại trạch trong giấc mộng, cách vài bước lại có giá đèn đá, phía bên trên đặt "Tử Đồng Đăng trản" (chén đèn bằng đồng tím) to như bát tô. Điểm khác biệt duy nhất là nơi này tối đen như mực, chẳng có ánh sáng. Đại Tai Bang Tử thấy lòng nặng trĩu, chẳng dám nghĩ sâu thêm.
Đổng Âm Dương đúng kiểu “trộm không về tay không”, xông tới giật phắt cái bình cổ trong tay Đại Tai Bang Tử. Cầm lên thấy nặng vừa tay, mắt lão suýt lồi ra, đào trộm mộ cả đời, chưa bao giờ thấy món hàng nào tầm cỡ như thế này? Lão gõ ngón tay lên bình, tiếng kêu trong trẻo thánh thót dễ nghe, đúng là bảo vật!.
Lão dẫn Tháp Thập Cáp và Sơn Cẩu Tử, lục lọi khắp phòng mộ phía trước, vơ vét được bảy tám món đồ tùy táng quý giá, cẩn thận nhẹ nhàng nhét vào cái bao da chuẩn bị sẵn. Cả bọn giơ đuốc đi tiếp, qua một đoạn đường hầm nữa, tới cuối là một cánh cửa đá vòm.
Đổng Âm Dương lôi cái xẻng mỏ vịt ra, cắm vào khe cửa, cả bốn người cùng hì hục cạy. Tiếng đá rít lên trầm đục, cửa đá hé ra một khe rộng chừng một thước. Đám người vừa định bước vào, bỗng từ trong khe thổi ra một luồng gió lạnh, rít như quỷ khóc, hơi lạnh buốt xương.
Sơn Cẩu Tử và Tháp Thập Cáp sợ giật bắn người, Đại Tai Bang Tử dù vốn gan dạ cũng cảm thấy rợn hết tóc gáy. Nhìn sang Đổng Âm Dương, lão chẳng còn vênh váo, mặt cắt không còn giọt máu, run rẩy móc cái thước mực trừ tà trong ngực ra ôm chặt trước ngực. Đợi hồi lâu không thấy có gì lạ mới thở phào nhẹ nhõm, nhưng khi cầm đèn soi về phía trước, cảnh tượng trước mắt khiến ông ta sợ mất mật, một bãi nước tiểu ấm nóng lập tức xối thẳng ra quần.