Chương 4: Đại Tai Bang Tử đánh hổ (1)minhnguyetthiennhai
Đại Tai Bang Tử nói tiếng Đông Bắc rất chuẩn, nhưng thực ra anh ta không phải người gốc Đông Bắc. Quê gốc anh ở vùng quan nội Giao Đông, dưới anh ta còn vài đứa em trai em gái. Tổ tiên vốn là Trì Bảo đạo sĩ ngụ tại Nhị Tiên Quán.
Các môn phái Đạo giáo khác nhau thì giới luật và phương pháp tu hành cũng khác. Tổ tiên nhà Đại Tai Bang Tử đời đời trụ miếu không xuất gia, được phép lấy vợ sinh con nối dõi, làm các việc vẽ bùa niệm chú, lập đàn làm phép, cầu thần xin quẻ, giải yểm phá trận, chỉ cần tiền hương hỏa đủ hậu, bất cứ pháp sự gì cũng có thể làm được. Cả nhà lớn nhỏ sống qua ngày, không dám nói là giàu có nhưng ít nhất cũng cơm no áo ấm đầy đủ.
Đến đời cha Đại Tai Bang Tử, gặp ngay thời buổi thiên hạ đại loạn, thổ phỉ cát cứ thi nhau nổi lên khắp mọi nơi, dân chúng lầm than, lại thêm nạn đói hoành hành. năm này qua năm khác không lũ lụt thì cũng hạn hán, ruộng đồng không thu hoạch được gì, cả rễ cỏ vỏ cây cũng bị ăn sạch, dân chúng phải đổi con để ăn thịt, thảm khốc vô cùng.
Người ta vẫn muốn thắp hương cầu khấn, mong thần phật phù hộ, nhưng lòng có thừa mà sức chẳng đủ, mạng sống còn chẳng giữ nổi lấy đâu tiền bạc để dâng đồ thắp hương? Nhị Tiên Quán từ lâu đã đứt đoạn hương khói, cả nhà Trì Bảo đạo nhân chỉ còn sống lay lắt nhờ chút lương thực ít ỏi do những người đến lễ bái trước kia để lại.
Đến khi hết sạch lương thực dự trữ, thiên tai vẫn không dứt, cả nhà này không thể sống nổi. Mấy đứa con lần lượt bỏ mạng vì đói, chỉ còn lại hai người con gái và một đứa con trai, chúng cũng đói đến mức tiều tụy, thân thể ngày càng yếu ớt. Cha mẹ bàn bạc với nhau, nếu cứ tiếp tục ở đây dù sớm hay muộn thì cả nhà đều sẽ chết, không bằng để mẹ dẫn hai con gái về quê xin ăn, còn cha dẫn con trai "xông" Quan Đông tìm đường sống.
Nghe nói vùng Đông Bắc đất đai màu mỡ mà dân cư thưa thớt, nhiều người Sơn Đông xông "Quan Đông" đều làm ăn khấm khá, chỉ cần chịu khó ra sức làm lụng. Cắn răng chịu đựng vài năm, ắt sẽ no đủ. Nếu hai cha con mở được lối thoát, khi đó sẽ nhờ người báo tin, đón mẹ con ba người tới sum họp.
Vợ chồng đã quyết định xong, sáng sớm hôm sau, cha Đại Tai Bang Tử gói ghém những đồ đạc có thể mang đi vào một cái bọc vải đeo lên vai. Người mẹ dẫn theo hai con gái, mắt đẫm lệ tiễn đưa cha con anh ra khỏi Nhị Tiên Quán, bước lên con đường lớn.
Đại Tai Bang Tử nước mắt lưng tròng, quỳ xuống đường vái lạy chín cái, rồi cứ bước đi một bước lại ngoái lại nhìn, càng đi càng xa, cho đến khi mẹ và các em gái ở cửa đền chỉ còn là ba chấm nhỏ đen không nhìn thấy nữa. Cả gia đình từ đó bị chia lìa, mỗi người một ngả tìm đường sống.
Vào thời ấy, kẻ xông Quan Đông chẳng phải ít. Sơn Hải Quan một "cánh cửa" chia cắt quan ngoại với quan nội. Từ khi Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh tiến vào Sơn Hải Quan, nhà Thanh thay nhà Minh cai quản, hoàng đế ban lệnh cấm người Hán đặt chân tới quan ngoại, vùng đất thiêng của người Mãn Châu, khiến suốt trăm năm sau đó dân số vùng Đông Bắc sụt giảm thê thảm.
Đến thời Đồng Trị nhà Thanh, hạ du Hoàng Hà mất mùa đói kém xảy ra liên tiếp, không hạn hán thì lũ lụt, dân nghèo vùng Sơn Đông, Hà Bắc, Sơn Tây thuộc Trung Nguyên vì mưu sinh, đành bỏ xứ vượt qua muôn vàn hiểm nguy xông tới vùng Đông Bắc.
Người Trung Quốc thường nói: 'Đất cũ khó rời', 'Ở nhà ngàn ngày tốt, ra đường vạn điều khó', ai chẳng hiểu đạo lý này? Dân nghèo bám víu mảnh đất cắm dùi, ai chẳng muốn sống cảnh 'Cơm no áo ấm, vợ con sum vầy'? Hai chữ xông 'Quan Đông' nghe dễ đấy, nhưng kẻ 'hai bàn tay trắng' muốn bám rễ nơi quan ngoại, thật đúng là khó lại càng thêm khó.
Hai cha con Đại Tai Bang Tử theo dòng người tị nạn vượt non băng suối, lách rừng lội khe, tránh thú dữ, né giặc cướp, đói rét cơ cực, vật lộn suốt hơn tháng trời mới tới được Quan Ngoại, toàn thân rách rưới, bụi bặm nhếch nhác.
Đến nơi lại gặp ngay khó khăn mới - mù đường mịt lối, chẳng biết làm gì để sống. Quan Ngoại tuy có những nơi đất đen phì nhiêu mênh mông, thế nhưng khí hậu lại lạnh lẽo khắc nghiệt, dân cư thưa thớt. Hai cha con lại chẳng phải nông dân tay cày tay cuốc, không biết khai hoang cấy lúa.
Không còn cách nào khác, cha Đại Tai Bang Tử đành nghĩ ra kế: dẫn con tới một thị trấn đông đúc dưới chân núi Trường Bạch, thuê tạm căn phòng tồi tàn trong trạm xe ngựa cũ nát, mặc đạo phục giả làm thầy trò, lại giở nghề cũ đi khắp phố phường lắc chuông bán quẻ, mong kiếm đủ ăn tạm thời, đứng vững được đã, giải quyết cái khó trước mắt đã rồi tính sau.
Nhưng trái với mong đợi, hai cha con lang thang khắp thị trấn suốt nửa tháng trời, sớm hôm vất vả, chỗ đông người nào cũng đến, vậy mà chẳng xong được việc nào. Ngoài vài người đồng hương thương tình bố thí vài đồng, còn lại chẳng ai thèm đoái hoài, dồn cả hai vào tuyệt cảnh.
Buổi chiều hôm ấy, cha con họ chịu đói chịu rét cả ngày, vừa từ trên phố trở về quán trọ thì bị chủ quán chặn lại ngay cửa: “Tôi nói này, hai ông ở quán nhỏ này cũng được kha khá ngày rồi, tiền đặt cọc cũng tiêu hết rồi, hai ông xem có nên đóng thêm tiền phòng không?” Cha Đại Tai Bang Tử đã đến đường cùng, sờ vào túi, quả nhiên chỉ còn vài đồng, nhưng nếu đóng tiền phòng hôm nay thì ngày mai sẽ đói khát, đành phải năn nỉ chủ quán cho nợ vài ngày, tiền phòng tạm thời chưa trả, đợi kiếm được tiền sẽ trả ngay.
Chủ quán cũng không thúc ép, nói rằng việc bỏ quê hương đi lập nghiệp ở Đông Bắc không ai dễ dàng cả, nợ vài ngày thì nợ. Chỉ là cha con ông ngày nào cũng dậy sớm về khuya, cũng không phải là hạng người lười biếng, nhìn y phục thì biết là đạo sĩ, rốt cuộc làm nghề gì mà nhiều ngày nay vẫn không kiếm được tiền?
Cha Đại Tai Bang Tử kể rõ sự tình, chủ quán nghe xong thì bặm môi chép miệng: "Này đạo trưởng, thế này không ổn rồi. Đông Bắc này khác Trung Nguyên, dân ở đây chỉ tin vào Bàn can tử đỉnh tiên mà thôi, tăng nhân đạo sĩ lang thang như các ngài chẳng có cửa đâu!"
Cha Đại Tai Bang Tử buồn bã thở dài: "Ông chủ, mấy ngày nay tôi cũng nhận ra rồi. Ở quan ngoại rung chuông bán quẻ, muốn kiếm miếng cơm thật quá khó. Nhưng tôi thực chẳng có bản lĩnh gì khác. Hay là nhờ ngài giúp một tay, chỉ cho cha con tôi một con đường sống?”
Chủ quán bảo: "Dân xông Quan Đông kiếm sống thường chỉ có hai đường, hoặc là khai hoang trồng trọt, hoặc là lên Trường Bạch Sơn làm thợ săn, đào chày gỗ, không có 'mánh' thì chẳng thể làm nổi.
Tuy nhiên cũng có hai việc khổ cực nữa: một là ra Lão Kim Câu đãi vàng; Hai là gia nhập mộc bang làm việc ở bến sông, nói trắng ra là việc kết gỗ lên bè rồi thả trôi sông.
Cha Đại Tai Bang Tử mắt sáng rực, hỏi: “Vậy thì tốt quá! Tôi đang tuổi tráng niên, ít ra cũng có sức vóc! Tôi lại biết bơi, hay là ông giúp tôi kiếm lấy công việc thả bè gỗ được không?”.
Chủ quán ngập ngừng nói, thả bè gỗ thì không khó, nhưng đó là nghề nguy hiểm chết người, nói chín phần chết một phần sống cũng không ngoa.
Cha Đại Tai Bang Tử vỗ đùi “Chín chết một sống, thế chẳng phải vẫn còn đường sống sao? Nếu không kiếm được tiền, cha con tôi chỉ có nước chết. Tôi chết thì chẳng sao, nhưng bằng mọi giá phải để thằng bé sống sót!” Chủ quán thấy ông nói năng cương quyết, đành gật đầu nhận lời.
Lưu vực vùng sông Áp Lục, sông Hồn, núi non trập trùng, rừng rậm bạt ngàn. Thời ấy giao thông khó khăn, gỗ nguyên khối đốn từ rừng sâu muốn ra ngoài chỉ có mỗi đường thủy.
Để kết bè gỗ, trước tiên phải đốn cây. Mùa đông, sông đóng băng, không vận chuyển được, thợ mộc bang chẳng thể rảnh rỗi ngồi không. Nhân lúc rảnh, họ vào rừng sâu đốn gỗ, làm suốt cả mùa đông.
Vùng Quan ngoại mùa đông lạnh thấu xương, lại kéo dài dằng dặc. Nhiều người gầy yếu, không chịu nổi đói rét, cứ thế chết cóng hoặc kiệt sức giữa rừng.
Cây lớn đốn từ núi phải khiêng xuống bờ sông, dùng dây mây, xích sắt buộc chặt kết thành bè, đuôi gắn một mái chèo gỗ để điều hướng. Bè buộc xong thì xếp vào “ổ bè” chờ đến xuân ấm, sông tan băng, nước dâng cao, mới thả bè xuống dòng.
Đầu lĩnh hô to: “Thả bè!”
Mọi người lập tức đứng vững trên các bè gỗ, dùng sào đẩy xuôi theo dòng nước. Những khúc gỗ lớn nhỏ trôi ào ạt ra khỏi núi, các khúc gỗ vừa là hàng hóa cũng vừa là thuyền, hoàn thành trọn vẹn một chuyến hành trình.
Dòng sông có đoạn rộng, đoạn hẹp, chỗ sâu, chỗ cạn; bè gỗ cũng to nhỏ khác nhau, trôi trên mặt nước xếp thành hàng dài, đầu cuối mịt mù, tạo nên cảnh tượng hùng tráng. Dân làm nghề này gọi là “lừa sông”, toàn những kẻ đói nghèo bán sức lực. Hễ có đường sống, chẳng ai dại dột chọn nghề này. Khổ cực, mệt nhọc khỏi phải bàn, lại nguy hiểm chết người, sống chết khó lường, sơ sảy một cái là mất mạng! Một chuyến thả bè phải qua ít nhất vài chục cửa ải tử thần, trong đó “Trẻ Con Khóc”, “Chốt Chắn Cửa”, “Đũng Quần Lớn”, “Gò Gậy Gộc” là hiểm trở nhất. Chỉ nghe tên đã biết những chỗ này đầy đá ngầm, ghềnh thác.
“Trẻ Con Khóc” có dòng nước đục ngầu từ thượng nguồn ào xuống, chảy xiết rít lên như gió, trẻ con nghe xong sợ đến khóc thét.
“Chốt Chắn Cửa” như một bậc cửa, bè gỗ đến đây nếu bất cẩn lao xuống đáy sông, mắc cạn trong bùn cát, người đừng hòng sống sót.
“Đũng Quần Lớn” có tảng đá khổng lồ chình ình giữa dòng, hai bên là hai luồng nước xiết. Bè gỗ đến đây, chỉ chậm một chút là đâm sầm vào đá, tan xương nát thịt.
“Gò Gậy Gộc” còn nguy hơn, mặt sông tưởng êm ả, nhưng đáy đầy đá ngầm như rừng gậy dựng đứng. Bè đi qua đây lắc lư dữ dội, người thả bè phải ghì chặt mái chèo, dù có lòi ruột cũng không được buông tay.
Gặp mùa mưa, nước sông dâng cao, bè gỗ dễ bị dòng xiết lật nhào, gỗ trôi tứ tung như que củi, người rơi xuống nước như sa vào cối xay gỗ, làm sao sống nổi? Một chuyến như trải qua tám mươi mốt kiếp nạn, biết bao “lừa sông” đã bỏ mạng dưới dòng. Nhưng tục ngữ có câu “Cầu phú quý ở trong hiểm nguy”, “tiền nhiều làm ma cũng phải nghe”. Thế nên mộc bang chẳng bao giờ thiếu “lừa sông” xả thân đi thả bè.
Trên một chiếc bè gỗ có khoảng hai đến ba người, người đứng đầu gọi là “Đại Mão Tử”, toàn là những tay lão làng giàu kinh nghiệm, đã nhiều năm lăn lộn trong sóng gió, những thợ mới vào nghề còn non nớt phụ trách việc chống sào, chèo thuyền.
Đại Tai Bang Tử và cha cùng làm việc trên một chiếc bè gỗ, tính là nửa nhân công. Thời xưa, người dân sống bằng nghề đánh cá có một quy tắc gọi là “cha con không cùng thuyền”, chính vì trên sông có nguy hiểm sóng gió, phải giữ lại một mạch nối dõi tông đường, hành nghề "Lừa sông" còn nguy hiểm hơn vạn phần so với cả việc đi thuyền, nếu không phải là bất đắc dĩ, tuyệt đối không có người cha nào độc ác lại dẫn theo con trai duy nhất của mình làm nghề này.
Cha con họ làm nghề này để kiếm sống,miễn cưỡng đủ miếng cơm ăn, mỗi lần trôi nổi giữa dòng sông bị sóng đánh cho tim đập chân run, trong lòng đều thề thốt rằng nếu lần này còn sống trở về, nhất định sẽ không làm nghề này nữa.
Những người làm "Lừa sông" khác tích góp được ít tiền thì có thể xây hai gian nhà đất, sắm sửa vài thứ đồ dùng để khai hoang cấy cày, nhưng cha con họ lại không có nghề nghiệp gì khác, đợi ăn hết tiền công thả bè thì lại phải lên núi chặt gỗ, xuống sông thả bè, để kiếm miếng ăn, dù khổ cực đến mấy cũng phải cố gắng chịu đựng.
Đại Tai Bang Tử biết cha mình không dễ dàng gì, liều mạng kiếm được vài đồng tiền chỉ vừa đủ ăn, việc đón cả gia đình ra ngoài Quan Đông khó như lên trời. Anh ta tự trách mình chỉ được tính là nửa nhân công, nên dốc hết mười hai phần sức lực để làm việc, chỉ mong được Đại Mão Tử để mắt tới, hy vọng hai cha con có thể kiếm thêm chút tiền.
Nào ngờ trời có gió mây bất chợt, người có họa phúc sớm tối. Cha anh ta không chết đuối, mà lại chết trong tay bọn cướp sông cướp bè gỗ. Bọn cướp sông ở Quan Đông, ít thì ba năm tên, nhiều thì hai ba chục tên, mỗi tên cầm dao, súng, gậy gộc, hoặc súng hỏa mai, tụ rồi tan, xuất hiện bất thường, giết người không chớp mắt, thấy gì cướp nấy.
Mấy tên cướp sông xông lên bè gỗ, một tên giơ dao đâm thẳng vào bụng cha của Đại Tai Bang Tử. Cha anh ta thân thể mềm nhũn, ôm bụng ngã ngồi trên bè. Tên cướp ấy lại lao tới Đại Tai Bang Tử, giơ dao định đâm.
Cha của Đại Tai Bang Tử, vốn đang nằm thoi thóp, không biết lấy sức từ đâu ra, bất ngờ lao vào tên cướp, đỡ thay cho con trai một nhát dao, rồi ôm chặt tên cướp cùng lăn xuống dòng sông. Máu tươi trong khoảnh khắc nhuộm đỏ cả mặt sông.
Một tên cướp khác tiến tới, đá một cú khiến Đại Tai Bang Tử đang sững sờ ngã xuống khỏi bè. May mắn thay, cậu ta ôm được một khúc gỗ trôi nổi, theo dòng nước trôi dạt vào bờ, coi như nhặt được cái mạng. Đáng thương thay cha của Đại Tai Bang Tử, mới xông Quan Đông chưa bao lâu đã chết thảm, để lại Đại Tai Bang Tử một mình cô đơn lẻ loi, miếng ăn cũng chẳng còn.
Đại Tai Bang Tử muốn trở về quê cũ Giao Đông, nhưng đường xá xa xôi, không biết có đi nổi hay không, mà dù có về được, e rằng cũng sẽ chết đói dọc đường. Bây giờ hắn mới chỉ là thằng bé mười mấy tuổi, sau tai họa kinh hoàng ấy, không thể tiếp tục làm việc trên bè gỗ nữa, nhưng vẫn phải tìm cách sống sót. Hồi còn làm "Lừa sông", anh ta thường nghe người ta nói rằng núi Quan Đông là một vùng đất quý giá. Từ khi quân Thanh nhập quan, nơi đây được coi là đất phát tích của nhà Thanh, bị phong tỏa hơn hai trăm năm, khiến khu rừng nguyên sinh này trở thành một kho báu tự nhiên.
Bởi vì cái gọi là: “Cá bơi trong nước, báu vật trong rừng, chim quý trên trời, thú lạ trên núi”. Từ “cá tầm, cá hồi, tam hoa ngũ la, da chồn chuột xạ, nhân sâm chày gỗ” tất cả đều có đủ.
Đại Tai Bang Tử nghĩ thầm, ông trời không để chim sẻ mù chết đói, chẳng lẽ cả vùng Quan Đông rộng lớn này lại không có chỗ cho mình một miếng cơm? Nói cũng khéo, cậu ta nhặt được một cái bẫy thú hỏng ở ven đường. Hồi còn ở quê, tại đạo quán, cậu đã từng dùng thứ này, nên lấy về sửa lại, thấy vẫn còn dùng tốt. Thế là cậu quyết định mang cái bẫy thú này lên núi để “thả bẫy đôi”.
“Thả bẫy đôi” là tiếng lóng địa phương, ám chỉ việc đặt bẫy trên núi để bắt các loại thú có lông quý như chồn vàng, chồn rừng, hồ ly, rồi lột da bán lấy tiền. Đại Tai Bang Tử bắt chước làm thêm vài cái bẫy thú, nhưng cậu ta chẳng biết cách tìm dấu vết thú, cùng lắm chỉ bắt được vài con gà rừng hay thỏ rừng. Chịu đói chịu khổ là chuyện thường ngày. Có khi liên tục mấy ngày không có gì bỏ bụng, đói đến mức trời đất quay cuồng, đứng không vững, hai mắt xanh lè, nhìn ai cũng thấy như có hai cái đầu.
May thì gặp được một hai tay thợ săn tốt bụng, thấy đứa bé khốn khổ thảm thương, cho miếng lương khô ăn cho đỡ đói. Đại Tai Bang Tử mừng rơi nước mắt, theo chân họ đi một đoạn, hỏi han kinh nghiệm săn bắn, học lỏm ít chiêu.
Chưa đầy ba tháng, anh ta đã hốc hác, gầy trơ xương, may lúc này trời còn ấm, không đến nỗi chết cóng giữa rừng sâu núi thẳm.
Chớp mắt đã vào đông, tuyết phủ kín núi, cũng chính là lúc đi săn thú lấy da. Đại Tai Bang Tử thầm nhủ rằng cách đặt bẫy vụng về của hắn, đến cái bụng mình còn chẳng đủ no, phải bắt được một hai con thú da quý đem xuống núi đổi lấy tiền thì mới qua nổi mùa đông khắc nghiệt.
Ở Quan Ngoại đã lâu, hắn nghe mấy tay thợ săn kể rằng có một loại chồn tuyết tên là "Thảo thượng sương" hay còn gọi là "Thiên kim bạch", rất hiếm gặp. Lông chồn trắng được xem là quý nhất, nhẹ nhàng mềm mại, tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Riêng với "Thiên kim bạch" không hề có một sợi lông tạp, cầu còn chưa chắc đã gặp.
Trước hết chồn tuyết này cực kỳ gian xảo, tính nết khó lường, chỉ ra kiếm ăn vào ban đêm, không dễ gì bắt được. Dù có may mắn bẫy được một con, cũng chưa chắc lông nó đã sạch trắng không tì vết. Tóm lại, thứ này vô cùng quý hiếm, người ta nói rằng trong triều đại trước, chiếc lồng sưởi tay của hoàng đế mỗi độ đông sang, chính là lót bằng loại da này.
Thời ấy, dân thường bắt được chồn trắng cũng không dám giữ lại dùng, dám cả gan dùng đồ giống hoàng đế chính là tội "khi quân phạm thượng", tội này cực nặng dù không đến mức tru di cửu tộc thì cũng bị chém đầu hỏi tội. Đại Tai Bang Tử tuổi nhỏ mà gan to, chẳng biết trời cao đất dày, cứ thế "tay không bắt giặc" vào rừng thử vận may.
Giữa rừng sâu thăm thẳm, hắn cô độc một mình, chẳng có lao săn, cũng chẳng mang súng bắn chim, dọc đường càng lúc càng sợ hãi, lo gặp hổ báo sẽ không đối phó nổi. Đành nhặt cái gậy mục nắm chặt trong tay cho đỡ run, lang thang vô định suốt nửa ngày.
Trước khi hắn vào núi mấy hôm, trong núi vừa mới đổ trận tuyết ngỗng dày đặc. Trong rừng sâu tuyết đọng thành băng, nước nhỏ cũng đóng đá, nhổ một bãi nước bọt xuống đất cũng có thể vỡ thành tám mảnh. Áo quần trên người gã lại mỏng manh, lạnh đến nỗi tay chân tê cóng, gù lưng rụt cổ, hai hàm răng đánh lập cập như muốn vỡ vụn. Đôi chân nặng như đeo chì, mỗi bước đi càng thêm nặng nề.
Vừa bước qua dưới một cây tùng cổ thụ, từ chạc cây bất thình lình một con thú rừng lao xuống, không lệch một ly, đáp thẳng lên lưng hắn.
Đại Tai Bang Tử liếc mắt một cái, thoáng thấy hai cái vuốt lông xù xì, xám xịt đặt lên vai mình, lập tức giật mình kinh hãi, tưởng rằng gặp phải con sói vồ. Lạ ở chỗ nó không nặng, nhưng hắn cũng không dám quay đầu lại, vì sợ rằng nếu đó là sói, chỉ cần quay lại nhìn là sẽ bị nó cắn vào cổ, mạng sống của hắn coi như tiêu đời.
Dù Đại Tai Bang Tử còn là đứa trẻ, nhưng hơn một năm qua theo cha phiêu bạt Quan Đông, lại còn lên sông thả bè gỗ, trải qua biết bao gian nan thử thách, cũng học hỏi được không ít điều, khi gặp chuyện có thể bình tĩnh ứng phó.
Lúc đó cái khó ló cái khôn, hắn cuống quít lăn người về phía trước, con thú kia bị hất văng ra sau.
Đợi đến khi hắn đứng dậy nhìn lại, chỉ thấy thứ đó lông lá xù xì, dài chỉ khoảng hai thước, thân mình có những vằn trắng xám, giống như vỏ cây bạch dương, răng nhọn và mồm sắc lẹm, hai con mắt lúc vàng lúc xanh, lóe sáng tứ phía, đang nhăn răng nhe nanh về phía hắn, sẵn sàng vồ tới.
Đại Tai Bang Tử chợt nhớ thợ săn trên núi nói tới loài này, ở Quan Ngoại người ta gọi nó là "Sơn ly tử". Tim hắn đập thình thịch con vật này tuy nhỏ thế nhưng lại vô cùng hung ác.
Người sống trên núi Quan Đông thường bảo: “Nhất heo, nhì gấu, ba hổ”. Heo rừng trong rừng sâu nặng quá nghìn cân, chẳng sợ gì. Rừng núi Quan Đông lắm cây tùng, heo rừng thích cọ mình vào cây, nhựa tùng bám đầy thân, kết thành lớp giáp cứng. Súng săn của thợ săn bắn chẳng thủng nổi lớp giáp ấy, gấu beo hổ báo gặp heo rừng cũng phải tránh đường.
Có câu: “Mây sợ gió, gió sợ tường, tường sợ chuột, chuột sợ mèo”. Heo rừng lợi hại thế, nhưng lại sợ Sơn ly tử!
Vì Sơn ly tử cực kì quỷ quyệt, vừa hung dữ vừa nhanh nhẹn, cực kỳ đối phó. Nó nhỏ con, thân nhanh như chớp, cứ quấn lấy heo rừng, quay tít cho heo rừng chóng mặt. Hoặc nó nhảy phốc lên lưng heo, bốn móng bám chặt xương sống, dính như keo, mặc heo rừng lồng lộn đâm đầu khắp rừng, chẳng hất nổi. Đến khi heo rừng kiệt sức, chạy không nổi nữa, nằm sụp xuống đất thở hổn hển, "Sơn ly tử" lẻn ngay xuống bụng, ngoạm đứt cái rốn. Giáp trên mình heo rừng dù dày, nhưng phần rốn thì chẳng có giáp. Khi bị cắn vào phần bụng, heo rừng đau điếng, điên cuồng chạy vòng quanh cây, ruột lòi ra quấn vào thân cây, kéo càng lúc càng dài, quấn mười mấy hai chục vòng. Dù to lớn cỡ nào, heo rừng cũng chịu không nổi, ngã vật ra đất. "Sơn ly tử" thong thả bước tới, chui đầu vào bụng heo rừng còn thoi thóp, moi tim gan máu me ra ăn. Heo rừng trơ mắt nhìn lục phủ ngũ tạng mình bị "Sơn ly tử" lôi ra, còn phô trước mặt, nhưng chẳng làm gì được, nằm trên đất bốn chân quẫy đạp, đau đớn nghẹn ngào, nhỏ vài giọt nước mắt, bất lực mà chết.
Dân vào rừng sâu đặt bẫy thú, đào chày gỗ gặp "Sơn ly tử" thì lành ít dữ nhiều. Đại Tai Bang Tử từng nghe thợ săn kể, "Sơn ly tử " ăn thịt người trước tiên sẽ moi mắt. Tuy nhiên thì nước muối làm đậu hũ, vật này khắc vật nọ, thợ săn có súng săn, cung tên thì chẳng ngán "Sơn ly tử ", hạ nó dễ như trở bàn tay.
Đại Tai Bang Tử chẳng kịp nghĩ ngợi, vội trấn tĩnh, lùi sát gốc tùng cổ thụ giữ thế, tay nắm chặt gậy gỗ đối đầu với "Sơn ly tử", mắt không rời con thú nhỏ. Ai ngờ nó nhanh như chớp, thấy hắn không cầm súng, lập tức nhảy vọt lên cây, từ trên cao vồ thẳng xuống đầu hắn. Đại Tai Bang Tử chưa kịp dương gậy chống đỡ, trong khoảnh khắc tuyệt vọng, nhắm chặt hai mắt, tưởng cái mạng nhỏ này phải bỏ lại rừng sâu. Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc, bỗng “đoàng” một tiếng súng vang, xé toạc trời xanh. "Sơn ly tử" trúng đạn ngã xuống đất, máu loang đỏ tuyết trắng, trên thân còn bốc ra từng sợi khói xanh.
Chú thích thêm:
Bàn can tử đỉnh tiên là cách gọi chỉ một hình thức của Xuất Mã Tiên, còn được gọi là “đỉnh hương”, “đại tiên lãnh binh dẫn đội”,
là hoạt động tông giáo do đệ tử dẫn dắt tiên gia để xem việc, xem bệnh, giải trừ tai ương cho người khác. Nó bắt nguồn từ văn hóa Shaman cổ đại của Trung Quốc, khá phổ biến ở khu vực phía Bắc, đặc biệt là vùng Đông Bắc.
Chày gỗ: Chày gỗ là tiếng lóng vùng Đông Bắc, ám chỉ nhân sâm
Tam hoa ngũ la: 8 loại cá quý vùng Đông Bắc bao gồm tam hoa và ngũ la
Sơn ly tử: một loại mèo rừng ở vùng Đông Bắc